Không có ảnh

Phần 2: Chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng BIM trong các dự án cơ sở hạ tầng ở Phần Lan

^9FDABF4E5D36C4104B5BE7DD1788592E35E9B3429D98083893^pimgpsh fullsize distr( Tại Phần 1 Heikki Halttula đã chia sẻ một số vấn đề về BIM trong cơ sở hạ tầng – Những kinh nghiệm từ Phần Lan. Phần tiếp theo này Heikki Halttula sẽ tiếp tục chia sẻ về Lợi ích của BIM đối với các đơn vị thiết kế và nhà thầu Những rào cản khi triển khai ứng dụng BIM )

3.2 Lợi ích của BIM đối với các đơn vị thiết kế và nhà thầu

Mô hình quy trình đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế

     BIM hỗ trợ việc áp dụng IPD và các phương thức thực hiện dự án quốc tế khác. Song hành với việc sử dụng các tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu BIM quốc tế như IFC, việc sử dụng mô hình hóa thông tin công trình góp phần giúp quy trình thực hiện dự án đáp ứng được các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.. BIM hỗ trợ trao đổi thông tin giữa các bộ phận tham gia dự án đến từ nhiều nước khác nhau. (Wong & Fan, 2013).Các đơn vị thiết kế có thể thay đổi thông tin thông qua mô hình BIM trực quan và điều này giúp các bên đều có thể hiểu được các đề xuất thiết kế từ một đội hình thiết kế đa ngôn ngữ.

     Sử dụng BIM hỗ trợ cho ứng dụng các công nghệ Xây dựng Sạch “Lean Construction” (Eastman et al., 2011). Lợi ích lớn nhất của BIM là nó giúp cho một nguồn thông tin được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. BIM và Lean Construction không phụ thuộc lẫn nhau mà ngược lại các phương thức Lean Constructions có thể được sử dụng không có BIM và BIM có thể ứng dụng không đi kèm với các phương thức của Lean Construction. Tuy nhiên quan điểm thường thấy là nếu có khả năng tích hợp cả BIM và Lean Construction như trong phương thức IPD thì quy trình xây dựng sẽ được cải tiến lớn nhất. (Sacks et al., 2009). Hiệp hội kiến trúc Mỹ AIA cũng đưa ra kết luận tương tự trong IPD (Ashcraft, 2008).

     Theo Tommelein and Ballard (1999),quản lý xây dựng theo phương pháp Xây dựng sạch- Lean Construction có sự khác biệt với tập quán xây dựng hiện tại ở các điểm sau:

  • Có một loạt mục tiêu rõ ràng trong thực hiện dự án ;
  • Tập trung mục tiêu tối đa hóa hoạt động công trình cho khách hàng;
  • Kiến tạo sản phẩm thiết kế và quy trình dự án cùng một lúc
  • Ứng dụng kiểm soát cả vòng đời dự án

 Tập trung vào vai trò của bộ phận thiết kế và nâng cao tính chính xác của thiết kế

     Azhar (2008) chỉ ra rằng một mô hình hình học chính xác và thể hiện dữ liệu tích hợp là những lợi ích chính của BIM. Người làm thiết kế có thể tiết kiệm trong các dự án thiết kế kiến trúc và hạ tầng. Có một vài kinh nghiệm tương tự đúc rút từ các dự án hạ tầng hơn là các dự án kiến trúc ở Nauy (Berg 2012) experiences from civil projects which are very similar than in architectural sector. Việc sử dụng BIM đã giúp bộ phận thiết kế phát hiện ra hầu hết các xung đột và các lỗi thiết kế khác (Berg, 2012). Trong các dự án tương tự trước đây có khoảng 250 thay đổi do các lỗi thiết kế trong tổng số 600 thay đổi và xung đột nhưng trong thực tế đối với các dự án ứng dụng phối hợp cộng tác trên nền BIM sẽ không có các xung đột thiết kế. Theo một nghiên cứu của CIFE người ta cũng tìm ra được tỷ lệ thay đổi do lỗi thiết kế chiếm 42% trong tổng số các thay đổi của dự án (Azhar, 2008).

     Các ứng dụng dựa trên BIM-giúp cho người thiết kế có công cụ để thiết kế tốt hơn. Aschcraft (2008) lưu ý tới một nghịch lý liên quan tới vai trò của bộ phận thiết kế là mặc dù bộ phận thiết kế đầu tư vào ứng dụng công nghệ mới nhưng lợi ích của BIM thì lại không chia đều cho tất cả các thành phần tham gia dự án. Vai trò của bộ phận thiết kế được nhấn mạnh nhưng không phải trong mọi hình thức thực hiện dự án thì bộ phận thiết kế được hưởng lợi từ việc có vai trò lớn hơn.

Giảm các lỗi thiết kế và nâng cao hiệu quả chung

     Có thể giảm thiểu lỗi thiết kế nhờ sử dụng BIM trong các dự án kiến trúc và hạ tầng. Trong các dự án lớn hơn khi có sự tham gia của các bộ phận thiết kế khác nhau có thể tạo ra một mô hình tương tác chung từ các mô hình thiết kế nguồn ban đầu của các bộ phận thiết kế để phát hiện các lỗi thường không thể phát hiện ra nếu sử dụng phương pháp truyền thống. Khi yếu tố tiến độ dự án được gắn kết với mô hình 3D, chúng ta có thể đề cập tới hệ thống 4D. Thời gian là chiều thứ 4 và hệ thống BIM 4D cho phép mô phỏng quá trình xây dựng và phát hiện các xung đột theo thời gian, điều này vô cùng hữu ích nếu như dự án có các đối tượng tạm thời (Eastman et al., 2011). Theo Azhar (2008),thiết kế sẽ tốt hơn do các phương án thiết kế có thể được phân tích kỹ lưỡng nhờ việc mô phỏng, cuối cùng cho kết quả tối ưu và sáng tạo.. Arayzi et al. (2011) công bố kết quả từ 1 dự án ứng dụng BIM tại công ty John McCall’s Architects (JMA) Company (Liverpool, UK) là ứng dụng BIM đã hỗ trợ JMA giảm thiểu sự trùng lắp và hiểu sai thiết kế.

     Các mô hình cộng tác rất hữu dụng trong quá trình gia công sản xuất và lắp dựng tại công trường. Khi mà tất cả các mô hình của các bộ phận thiết kế khác nhau được phối hợp vào trong 1 mô hình, có thể phát hiện ra các xung đột nhờ các ứng dụng khác nhau. Rất nhiều các lỗi thiết kế có thể phát hiện trực quan nhờ việc dùng mô hình diễn họa 3D. Thông tin từ các mô hình 3D này có thể được xuất sang các máy móc tự động hóa được sử dụng trong giai đoạn gia công sản xuất. Các mô hình cộng tác tăng chất lượng thiết kế, nâng cao tính phối hợp giữa các đơn vị thiết kế và nhà thầu, đồng thời đẩy nhanh tiến trình dự án, tiết kiệm chi phí và giảm các mâu thuẫn có thể phát sinh.(Eastman et al., 2011.)

Cải tiến quy trình tự động hóa xây dựng

     Vähä et al. (2013) công bố trong nghiên cứu của họ con số giảm 30% thời gian sản xuất và giảm 50% lãng phí nhờ vào quy trình tự động hóa. Công việc xây dựng được hoàn thành tại công trường và quá trình gia công kết cấu đã được thực hiện trước khi ra tới công trường. Lợi ích của gia công kết cấu đã mang lại lợi ích là cắt giảm chi phí, chất lượng tốt hơn và ít công việc hơn tại hiện trường. Tự động hóa xây dựng giảm nhu cầu nhân công và các lãng phí. Thời gian sản xuất được cắt giảm và môi trường làm việc mà theo đó an toàn lao động được cải thiện. Gia công kết cấu trước khi ra công trường có thể thực hiện được nhờ các ứng dụng thiết kế tốt hơn và hệ thống ICT. Người ta cho rằng BIM đóng vai trò quan trọng trong quy trình tự động hóa xây dựng.

Quản lý quy trình xây dựng hiệu quả hơn 

     BIM hỗ trợ cho việc triển khai ứng dụng các quy trình của Lean Construction nhờ sự cộng tác của các tổng thầu và các thầu phụ. BIM hỗ trợ cho quy trình bằng việc duy trì hệ thống theo dõi các nguồn lực tại công trường bất cứ khi nào cần. Điều này giúp cho giảm thiểu lãng phí và tránh lưu kho tại công trường. Kế hoạch kho vận “Just In Time” đòi hỏi thông tin chính xác của thiết kế và các nguyên vật liệu cần thiết luôn sẵn có trong mô hình BIM mà các bên tham gia dự án có thể truy cập thông tin khi sử dụng các thiết bị di động. Mua sắm nguyên vật liệu căn cứ vào thông tin khối lượng vật liệu cần thiết có thể thấy từ mô hình BIM. Điều này giúp cho quy trình mua hàng chính xác bởi lẽ được căn cứ vào hệ thông thông tin thiết kế cập nhật nhất. (Eastman et al., 2011.)

VI. Những rào cản khi triển khai ứng dụng BIM

     Phát hiện quan trọng gần đây là vẫn còn rất nhiều cải tiến cần được thực hiện trong việc tổ chức các dự án ứng dụng công nghệ BIM. Có các vấn đề phát sinh với quy trình chung. Lý do vì không phải tất cả các phương thức mua sắm nào cũng hỗ trợ cho việc sử dụng mô hình hóa thông tin công trình, các chỉ dẫn mô hình hóa chung thường không đầy đủ hoặc không có tính chất thực tiễn cao. Chúng tôi nhận thấy rằng đối với chủ đầu tư và các người dùng cuối những rào cản ứng dụng BIM nhiều hơn là đối với các đơn vị thiết kế và nhà thầu.(Halttula et al. 2015 unpublished.)

Những rào cản có tính chất cơ cấu hệ thống và quy trình chung

     Đây là nhóm lớn nhất trong đó 47% các nhóm câu trả lời được xếp vào. Những rào cản bao gồm tổ chức của dự án, thiếu hụt quy trình chung được xếp chung trong nhóm này. Các nhận xét gồm “tính toán thưởng sai”, “quy trình đơn hàng không hợp lý”, “Đo lường cạnh tranh chỉ là con số của các nhà thầu ”, “Quy trình cũng nên được thay đổi”, “đường lối chính sách”, “Không có ai là người điều phối cho toàn bộ chu trình dự án (ai đó là người tìm hiểu thông tin)”, “sub-optimisation”, “the totality of project data management”, “lo ngại các vấn đề pháp lý”, “tính hiện thực của các mục tiêu” và “không có tác dụng gì với người dùng cuối”. Rõ ràng là không có đủ các thông tin về các yêu cầu sử dụng BIM trong các quy trình chung. Các phương thức mua bán thường tập trung vào quy trình sử dụng văn bản giấy do đó không hỗ trợ quy trình dựa trên nền công nghệ BIM. Kế hoạch ứng dụng BIM có vẻ còn bị loại bỏ, đặc biệt khi tính toán tới mô hình nào,chính xác như thế nào để sử dụng, mô hình nào thực sự cần thiết, ai là người có quyền sở hữu mô hình và ai có trách nhiệm pháp lý. Không ai chịu trách nhiệm về mô hình cộng tác và những vấn đề này cần được làm rõ trong hoạch định chương trình ứng dụng BIM . (Halttula et al. 2015 unpublished.)

Rào cản phản ứng với thay đổi.

     Tỷ lệ phản ứng với thay đổi chiếm 26% tổng số các rào cản cho sự thay đổi. Các câu trả lời được xếp cùng trong nhóm này bao gồm “phản ứng lại thay đổi”, “phản ứng với thay đổi hệ giá trị” “hệ thống quản lý không cam kết thực hiện “, “sự thay đổi sẽ khó khăn và chậm chạp “ “làm ngơ và thiên vị, khó có thể chỉ ra các lợi ích. Nếu số lượng rào cản được nêu ra so sánh với góc nhìn của bộ phận thiết kế, nhà thầu và góc nhìn của chủ đầu tư và người dùng cuối thì với mỗi nhóm sẽ có sự khác biệt (Hình. 6). Con số phản ứng là rào cản trước thay đổi từ các câu trả lời của chủ đầu tư và người dùng cuối lớn hơn (31%) là từ bộ phận thiết kế và nhà thầu (22%). Bản chất của con người là luôn phản ứng trước thay đổi và không dễ gì chuyển đối các quy trình quen thuộc sang cách thức làm việc mới. Không phải toàn bộ các kỹ năng chuyên nghiệp của các nhân viên trong quy trình làm việc truyền thống có thể áp dụng trong quy trình làm việc dựa vào BIM. Chủ đầu tư và người dùng cuối thường khó thay đổi ý kiến hơn so với bộ phận thiết kế và nhà thầu.

Tính tương thích và các vấn đề tương tự

     Trong tổng số các câu trả lời có 11% nêu ra vấn đề thiếu tính tương thích là rào cản cho thay đổi. Các chia sẻ lớn nhất liên quan tới các rào cản mô hình không phù hợp với quy trình quốc tế (17%). Thường dó sẽ là các câu trả lời “các vấn đề liên quan tới định dạng”, “các vấn đề tương thích với máy móc thiết bị”, “các tiêu chuẩn và luật lệ chung”, “định dạng chuyển đổi dữ liệu” and “ví dụ trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng không có tất cả các tiêu chuẩn”. Rất nhiều việc cần làm để có thể giải quyết vấn đề tương thích. Đã có các hướng dẫn mô hình hóa và các tiêu chuẩn chuyển đổi dữ liệu cho ngành công nghiệp xây dựng dân dụng và cơ sở hạ tầng. Hiểu biết về các hướng dẫn và tiêu chuẩn này còn hạn chế và các tiêu chuẩn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của mọi tình huống sử dụng thực tế. Một kế hoạch triển khai BIM được thiết lập trước khi dự án bắt đầu sẽ giúp giải quyết những vấn đề này. Nếu không có các tiêu chuẩn mở cho các ứng dụng nhất định, các bên tham gia dự án phải thống nhất các quy trình đặc thù của dự án để đảm bảo luồng thông tin thông suốt.

Các rào cản liên quan tới ICT

     Trong số toàn bộ các rào cản thì 8% liên quan tới ICT.Người ta nhận thấy rào cản lớn nhất là với mô hình có thể đáp ứng chuẩn quốc tế (Hình2.). Các rào cản được nêu ra bao gồm “sự phù hợp của phần mềm với công việc thiết kế ”, ngày càng trở nên chính xác hơn, “ứng dụng này khó sử dụng”, “diễn họa” và “các vật liệu mới và thời gian thực sự để cập nhật mô hình”. Rõ ràng là một số ứng dụng chưa thực sự đáp ứng được các nhiệm vụ liên quan tới thiết kế, xây dựng và bảo trì công trình bằng nền tảng công nghệ BIM. Các nhà sản xuất phần mềm vẫn còn rất nhiều việc để làm.

Một số rào liên quan tới ICT cũng có thể xếp vào nhóm rào cản liên quan tới quy trình và liên quan tới phản ứng trước thay đổi, ví dụ như “giá phần mềm” được xếp vào nhóm phản ứng trước thay đổi. Phần mềm có giá thị trường và nếu thị trường hoạt động bình thường thì giá cao sẽ tự động điều chỉnh xuống khi có cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, 65% thị phần xây dựng của Phần Lan đã ứng dụng BIM.

Rào cản đào tạo và các vấn đề liên quan tới tri thức

     Trong tổng số các câu trả lời 8% được xếp vào nhóm này, nhóm rào cản do thiếu hụt đào tạo và tri thức. Các câu trả lời như“quá nhiều kỹ năng đặc biệt”, “thông tin nào cần thiết—các câu hỏi mở”, “chuyên môn”, “thiếu biệt ngữ” và “Kiến thức về BIM rời rạc”. Đào tạo là yếu tố then chốt để thay đổi điều này. Đào tạo ở đây cần được nhìn nhận là đào tạo công nghệ mới, nhưng theo đoạn trình bày trên thì còn nhiều việc phải làm để làm rõ chu trình và quy trình BIM mà sau đó nên được đào tạo cho toàn bộ các bên có liên quan trong ngành công nghiệp. (Halttula et al. 2015 unpublished.)

Các bài liên quan:

Phần 1: Chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng BIM trong các dự án cơ sở hạ tầng ở Phần Lan

Phần 3: Chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng BIM trong các dự án cơ sở hạ tầng ở Phần Lan

Phần 4: Chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng BIM trong các dự án cơ sở hạ tầng ở Phần Lan

 

© Copyright 2013 harmonysoft. All rights reserved.

® HarmonySoft giữ bản quyền nội dung trên Website này.